Đầu tư nước ngoài
1. Hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài:
Đầu
tư ra nước ngoài (ĐTRNN) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế
của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị
trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng
hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí
vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước
và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường,
đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao nâng lực quản lý và
trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy
nhiên, tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi nước mà ĐTRNN cân
bằng và đồng hành với đầu tư nước ngoài.
Vì vậy, dòng vốn đầu tư giữa các nước phát triển sang các nước đang
phát triển biến động từng năm tùy thuộc nhu cầu và điều kiện phát triển
kinh tế-xã hội của mỗi nước, như Hàn Quốc là một nước có chính sách
thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư nước ngoài
vào, đồng thời cũng khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư ra
nước ngoài. Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế kém, tiến hành thu hút đầu tư nước ngoài
chậm hơn so với các nước khu vực và thế giới nhưng 20 năm qua đã đạt
được nhiều thành tự trong thu hút và sử dụng vốn ĐTNN, đồng thời, do
nhận thức được vai trò của ĐTRNN nên sớm đã có chính sách khuyến khích
doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.
Những năm đầu thập niên 90, lượng
vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng mỗi năm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản
xuất hàng dệt-may tăng cao nên số lượng quota xuất khẩu hàng năm không
đáp ứng đủ năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách “đóng cửa rừng”,
cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác
động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong
công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng. Vì vậy, nhằm bù đắp các
“thiếu hụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mục tiêu hoạt
động hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu
vực. Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể
tới một số doanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên
giới với một số nước bạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại
nước bạn theo thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa
phương hai nước. Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt
Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động ĐTRNN. Như vậy, có thể nói sau
hơn 10 năm thực thi Luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam bắt đầu hình thành, mở
đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này. Mặc dù hành lang pháp lý cho
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu năm 1999, nhưng
trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động
ĐTRNN. Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ,
ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam (Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày
30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý
ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam). Những văn bản nêu
trên cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo nên một khung pháp lý
cần thiết cho hoạt động ĐTRNN. Trong hơn 16 năm qua, đã có 249 dự án
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,39 tỷ USD. Việc
ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh
dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự
án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định.
Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh
nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế
giới. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp
Việt Nam còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện,
bộc lộ một số hạn chế đòi hởi cần được hoàn thiện. Chẳng hạn, các quy
định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán, có một số điều khoản đến nay
không còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức
ĐTRNN. Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà, không
ít quy định của cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Quy trình đăng ký và thẩm
định cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, thủ tục
điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng. Thiếu các chế tài
cụ thể về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự án đầu tư
ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động ĐTRNN. Cơ chế phối
hợp quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra,
văn bản pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ nên
hiệu lực pháp lý chưa cao. Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ
đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động ĐTRNN và được Quốc hội đã thông
qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào tháng 7/2006), trong đó có
các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam. Sau một thời gian
ngắn, Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh
nghiệp Việt Nam được ban hành ngày 09/9/2006 nhằm hướng dẫn thi hành
Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là (I) phù hợp với thực
tiễn hoạt động; (II) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; (III) tăng cường
hiệu quả của quản lý nhà nước và (IV) đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Đồng thời, kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như
khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về ĐTRNN nhằm
mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đều
có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động
kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội
bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật
Việt Nam bảo hộ. Giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê
duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh
doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ
trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội
nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ
quốc. Bên cạnh đó, Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách
nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh
nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có
những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước)
nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Như vậy,
khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần dần được hoàn thiện hơn
thông việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời, Nghị định số
78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về ĐTRNN đã thay thế Nghị định số
22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được
hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH
ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Thủ tục đầu tư ra nước ngoài:
2.1. Điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:
- Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam. -
Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước
đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài. - Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
2.2. Quy trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
Nhà đầu tư làm thủ tục đầu tư tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quy trình cụ thể như sau:
2.3 Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đầu tư áp dụng đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt Nam:
a) Hồ sơ dự án đầu tư gồm:
- Dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. - Văn bản đăng ký dự án đầu tư. -
Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu;
hoặc Giấy phép đầu tư. - Hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận với đối
tác về việc góp vốn hoặc mua cổ phần hoặc hợp tác đầu tư đối với dự án
đầu tư có đối tác khác cùng tham gia đầu tư. - Văn bản đồng ý của
Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng cổ đông hoặc
đại hội xã viên về việc đầu tư trực tiếp ra nước.
b) Thủ tục đăng ký và thời gian cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
- Hồ sơ: 03 bộ (có 01 bộ hồ sơ gốc) -
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư có văn bản đề nghị nhà đầu tư giải trình về nội dung
cần phải được làm rõ (nếu có). - Trong thời hạn 15 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng
nhận đầu tư, đồng thời sao gửi các Bộ, ngành và địa phương liên quan. -
Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư có văn bản thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.
2.4 Thẩm tra, cấp Giấy chứng nhận đầu tư áp dụng đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng Việt Nam trở lên:
a) Hồ sơ dự án đầu tư gồm:
- Dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. - Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư. -
Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu;
hoặc Giấy phép đầu tư. - Văn bản giải trình về dự án đầu tư gồm các
nội dung sau: mục tiêu đầu tư; địa điểm đầu tư; quy mô vốn đầu tư;
nguồn vốn đầu tư; việc sử dụng lao động Việt Nam (nếu có); việc sử dụng
nguyên liệu từ Việt Nam (nếu có); tiến độ thực hiện dự án đầu tư. -
Hợp đồng hoặc bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổ
phần hoặc cùng hợp tác đầu tư đối với trường hợp có đối tác khác cùng
tham gia đầu tư. - Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội
đồng quản trị hoặc Hội đồng cổ đông hoặc đại hội xã viên về việc đầu tư
ra nước ngoài.
b) Thời gian thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
-
Đối với các dự án đầu tư phải được sự chấp thuận đầu tư của Thủ tướng
Chính phủ, trong thời hạn 25 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ
hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ý kiến thẩm
định bằng văn bản kèm theo hồ sơ dự án đầu tư và ý kiến bằng văn bản
của các cơ quan có liên quan để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến chấp
thuận của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng
nhận đầu tư. - Đối với các dự án đầu tư không quy định phải được
sự chấp thuận đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng
nhận đầu tư.
|